Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Huyện Di Linh.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Kinh nghiệm giáo dục > Vì nền giáo dục của ngày mai >
Lê Văn Nghĩa @ 10:45 14/01/2009
Số lượt xem: 7578
CHUYÊN ĐỀ: BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NHÌN TỪ NHIỀU GÓC ĐỘ
Trước đòi hỏi bức thiết của đổi mới phương pháp giảng dạy trong trường phổ thông, vấn đề bồi dưỡng giáo viên đang được nhìn nhận như một nhu cầu không thể thiếu nhằm giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy. Chuyên đề tháng này của báo GD&TĐ giới thiệu với bạn đọc một số góc nhìn về bồi dưỡng giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học vì một mục tiêu là ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục trong mỗi trường học.
Cần nhìn thẳng vào “giá trị” và thực trạng
Có thể hiểu bồi dưỡng là một dạng đào tạo đặc biệt, là giai đoạn tất yếu tiếp theo của chương trình đào tạo liên tục, tiếp nối, thường xuyên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của GV. Đã có nhiều chương trình, hoạt động về tập huấn, bồi dưỡng cho GV. Trên thực tế bên cạnh những kết quả đạt được, bồi dưỡng GV vẫn còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế.
Một dạng đào tạo đặc biệt
Theo Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở GD (NGVCBQLCSGD, Bộ GD-ĐT), đội ngũ GV và cán bộ quản lý GD (CBQL) là lực lượng cốt cán biến mục tiêu GD thành hiện thực, đồng thời là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả GD. Hiện nay, GD phổ thông có hơn 800.000 GV ở các cấp học. Chất lượng đội ngũ GV phổ thông, trừ một bộ phận khá, giỏi, còn lại số đông lúng túng trong việc vận dụng phương pháp dạy học mới. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do hệ thống các trường sư phạm, lực lượng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng GV tuy có tiến bộ một số mặt, nhưng vẫn còn bất cập giữa các điều kiện về đội ngũ GV, CSVC với quy mô đào tạo, yêu cầu nâng cao chất lượng. Việc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học của các trường sư phạm cho giáo sinh còn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông. Cũng theo Cục NGVCBQLCSGD, đội ngũ GV hiện nay cần được trang bị hệ thống phương pháp dạy học mới, cần được bồi dưỡng cách làm việc mới của người GV để đổi mới phương pháp trở thành hiện thực sinh động trong các trường học.
Cục NGVCBQLCSGD cũng khẳng định: Bồi dưỡng GV có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV nói riêng, chất lượng GD nói chung. Thực hiện bồi dưỡng là nhiệm vụ được tiến hành suốt quá trình công tác của GV. Bồi dưỡng nhằm bổ sung, cập nhật, đào tạo tiếp tục và đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ của người GV, giúp người GV không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu, rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng GD phổ thông.
Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông được PGS.TS Đỗ Tiến Đạt (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) nêu trong Hội thảo bồi dưỡng GV đổi mới phương pháp giảng dạy đã chỉ ra rằng: Bồi dưỡng giúp GV cơ bản nắm được tinh thần, nội dung đổi mới phương pháp dạy học, nắm được phương pháp dạy học đặc trưng của từng bộ môn, giảm bớt cách dạy học mang tính truyền thụ kiến thức một chiều... Bồi dưỡng cũng giúp GV kĩ năng sử dụng đa dạng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, các phương tiện thiết bị dạy học, nhằm dẫn dắt, gợi mở HS chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức, hình thành kĩ năng. Góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong nhà trường; góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt- học tốt”; ổn định và nâng cao chất lượng GD; góp phần tạo ra những động lực lớn trong học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV.
Cần nhìn thẳng vào “giá trị” và thực trạng
Có thể hiểu bồi dưỡng là một dạng đào tạo đặc biệt, là giai đoạn tất yếu tiếp theo của chương trình đào tạo liên tục, tiếp nối, thường xuyên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của GV. Đã có nhiều chương trình, hoạt động về tập huấn, bồi dưỡng cho GV. Trên thực tế bên cạnh những kết quả đạt được, bồi dưỡng GV vẫn còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế.
Một dạng đào tạo đặc biệt
Theo Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở GD (NGVCBQLCSGD, Bộ GD-ĐT), đội ngũ GV và cán bộ quản lý GD (CBQL) là lực lượng cốt cán biến mục tiêu GD thành hiện thực, đồng thời là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả GD. Hiện nay, GD phổ thông có hơn 800.000 GV ở các cấp học. Chất lượng đội ngũ GV phổ thông, trừ một bộ phận khá, giỏi, còn lại số đông lúng túng trong việc vận dụng phương pháp dạy học mới. Một trong các nguyên nhân của tình trạng này là do hệ thống các trường sư phạm, lực lượng chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng GV tuy có tiến bộ một số mặt, nhưng vẫn còn bất cập giữa các điều kiện về đội ngũ GV, CSVC với quy mô đào tạo, yêu cầu nâng cao chất lượng. Việc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học của các trường sư phạm cho giáo sinh còn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông. Cũng theo Cục NGVCBQLCSGD, đội ngũ GV hiện nay cần được trang bị hệ thống phương pháp dạy học mới, cần được bồi dưỡng cách làm việc mới của người GV để đổi mới phương pháp trở thành hiện thực sinh động trong các trường học.
Cục NGVCBQLCSGD cũng khẳng định: Bồi dưỡng GV có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV nói riêng, chất lượng GD nói chung. Thực hiện bồi dưỡng là nhiệm vụ được tiến hành suốt quá trình công tác của GV. Bồi dưỡng nhằm bổ sung, cập nhật, đào tạo tiếp tục và đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ của người GV, giúp người GV không ngừng nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu, rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng GD phổ thông.
Kết quả khảo sát thực trạng đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông được PGS.TS Đỗ Tiến Đạt (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) nêu trong Hội thảo bồi dưỡng GV đổi mới phương pháp giảng dạy đã chỉ ra rằng: Bồi dưỡng giúp GV cơ bản nắm được tinh thần, nội dung đổi mới phương pháp dạy học, nắm được phương pháp dạy học đặc trưng của từng bộ môn, giảm bớt cách dạy học mang tính truyền thụ kiến thức một chiều... Bồi dưỡng cũng giúp GV kĩ năng sử dụng đa dạng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, các phương tiện thiết bị dạy học, nhằm dẫn dắt, gợi mở HS chủ động tìm tòi, phát hiện kiến thức, hình thành kĩ năng. Góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực trong nhà trường; góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt- học tốt”; ổn định và nâng cao chất lượng GD; góp phần tạo ra những động lực lớn trong học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV.
Lê Văn Nghĩa @ 10:45 14/01/2009
Số lượt xem: 7578
Số lượt thích:
0 người
- 'Bắt mạch' nền giáo dục Việt Nam (13/01/09)
- Thư ngỏ của một học sinh giỏi gửi Bộ trưởng Giáo dục (13/01/09)
- Tâm sự của một nhà giáo - một phụ huynh học sinh (12/01/09)





Nêu những đánh giá về công tác bồi dưỡng GV (trong khuôn khổ dự án phát triển GD THPT), ông Trần Như Tỉnh (GĐ điều hành dự án) đã cho biết: Nhìn chung công tác tổ chức bồi dưỡng được GV đánh giá cao ở thời lượng tập huấn và GV chưa hài lòng nhất ở việc cung cấp thiết bị thí nghiệm. Trong khi đó nhóm tài liệu tập huấn được GV cốt cán đánh giá cao nhất, về chất lượng và nội dung băng hình được GV đánh giá thấp hơn (ngoài ra một số GV còn cho rằng, lớp học trong băng tham khảo chưa đại diện cho mặt bằng chung về trình độ của HS, do đó GV cũng khó học và tham khảo được nhiều trong băng hình. ở nội dung tập huấn, ý kiến của GV cốt cán cho thấy các giảng viên chú trọng vào những nội dung đổi mới sát với chương trình, SGK mới, với tài liệu hướng dẫn và tập trung vào những điểm khó, điểm mới trong SGK, vào phương pháp và kiểm tra đánh giá. Việc quan tâm đến đổi mới phương pháp có tính minh hoạ bằng các giáo án cụ thể và hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học còn chưa thoả đáng. Có tới 55,5% GV chưa hài lòng về tập huấn sử dụng thiết bị dạy học. Trong khi đó, về phương pháp tập huấn, nhận xét của GV cho thấy giảng viên đã sử dụng phương pháp cùng tham gia, nhưng thời gian GV chia sẻ còn ít; giảng viên đã sử dụng phối hợp các phương tiện dạy học, bên cạnh đó cũng còn có những giảng viên chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình để trình bày nội dung bồi dưỡng.
Bà Nguyễn Lăng Bình (GĐ dự án Việt- Bỉ, Vụ GD Trung học, Bộ GD-ĐT) cho biết dự án này đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến 2003 và đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến 2009 với mục tiêu “nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”, gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Lai Châu. Qua khảo sát cho thấy: Dạy học thụ động là thói quen khó thay đổi ở phần lớn các GV, do đó hiện tượng “đọc- chép” và “dạy chay” vẫn còn phổ biến tại các trường tiểu học, THCS và đặc biệt là trong các trường CĐ sư phạm. Nhiều GV tích cực thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng nhận thưc chưa đầy đủ về bản chất của đổi mới phương pháp giảng dạy, đồng thời chưa nắm được kỹ năng, kỹ thuật trong tổ chức các hoạt động dạy- học. Vì vậy dẫn đến các hiện tượng dạy học mang tính hình thức, hiệu quả thấp.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên một phần là do công tác bồi dưỡng GV về đổi mới phương pháp giảng dạy còn nhiều bất cập. Cụ thể như thời gian tập huấn chưa tương thích giữa thời gian tập huấn ở TW và địa phương. Ví dụ, tập huấn trung ương thời gian trung bình từ 5-6 ngày cho một môn học, nhưng tập huấn ở địa phương chỉ từ 0,5 ngày đến 2 ngày một môn học (tuỳ điều kiện của từng tỉnh). Thời gian tập huấn ở địa phương chỉ đủ để thông báo, giới thiệu nội dung tập huấn. Theo Nguyễn Lăng Bình: “Nội dung tập huấn đơn điệu, lặp đi lặp lại, nhiều GV cho rằng “điều đã biết thì cứ nói mãi, điều muốn biết thì không giải thích được”. Phương pháp tập huấn còn nặng về thuyết giảng, chưa chú ý đến hứng thú và hình thành kỹ năng cho người học”.
“Giá trị” của công tác bồi dưỡng GV đã được “xác nhận” từ các nhà khoa học GD và cần thông suốt hơn từ cán bộ quản lý GD, nhất là từ chính mỗi GV. Cần thẳng thắn khi nhìn vào thực trạng của công tác bồi dưỡng GV để có được những thay đổi cần thiết nhằm giảm thiểu những bất cập trong dạng đào tạo đặc biệt này.
Nhiều ý kiến từ cơ sở GD cho thấy, việc bồi dưỡng GV về đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đang được quan tâm và không ít trường học đã đặt vấn đề bồi dưỡng GV thành trọng tâm với những nội dung cụ thể, thiết thực. Nhiều cơ sở GD đã thấy rằng để bồi dưỡng có hiệu quả thì phải nâng nhận thức của lãnh đạo nhà trường, nhận thức của GV, hay tạo hiệu quả từ những mặt cụ thể như: Bồi dưỡng việc đổi mới PP nâng cao hiệu quả giờ học qua tích cực sử dụng thiết bị dạy học (TBDH), bồi dưỡng GV đổi mới ứng dụng CNTT và truyền thông, bồi dưỡng đổi mới PP từ cải tiến phương thức đánh giá HS... đến việc bồi dưỡng GV qua nâng cao hiệu suất giờ giảng từ việc trình bày bảng.v.v.
Hiệu trưởng Trường THPT Chu Văn An (Thái Nguyên) Nguyễn Quang Thuấn rút ra kinh nghiệm: “Muốn làm tốt công tác bồi dưỡng GV để đổi mới PP thì bản thân GV phải tận tuỵ, thương yêu, thân thiện và vì HS”. Chỉ có tình yêu lòng nhân ái đích thực của GV đối với HS thì GV mới yêu nghề, có sáng tạo trong nghề nghiệp. Hiệu trưởng Nguyễn Quang Thuấn còn cho rằng công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng phải làm thường xuyên dưới nhiều hình thức, đáp ứng những vấn đề mà GV cần và phải thật cụ thể, tránh hình thức. Hiệu trưởng, hiệu phó phải thật gương mẫu trong tự học. Phải giảm bớt những công tác hành chính mất thời gian của GV để tập trung vào chuyên môn. Khen chê, động viên kịp thời đánh giá GV minh bạch. Tôn trọng ý kiến của HS và gia đình HS qua thông tin phản hồi.
Ông Nguyễn Duy Tuyên (Trường THPT Hoà Phú, huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang) thì cho rằng: “Ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng phải có nhận thức đúng đắn về vai trò của CNTT trong đổi mới PPDH, đổi mới công tác quản lý, từ đó sẽ xây dựng và thực hiện kế hoạch khả thi để bồi dưỡng GV và đưa việc tự học, tự bồi dưỡng GV thành phong trào mạnh mẽ”. Cần nâng cao nhận thức của GV; bồi dưỡng trình độ, kỹ năng ứng dụng CNTT cho GV; tạo điều kiện thuận lợi để GV có thể khai thác, trao đổi, chia sẻ thông tin nhờ tiện ích từ Internet. Ông Nguyễn Duy Tuyên cũng cho rằng, nhà trường cần tiến hành xây dựng kho tư liệu dùng chung như những thư viện nhỏ, gồm các phần mềm, tài liệu, thông tin liên quan đến từng môn học, từng lĩnh vực để chia sẻ cho đồng nghiệp trong và ngoài trường.
NGƯT, hiệu trưởng Trường THPT Hưng Yên (tỉnh Hưng Yên) Phạm Huy Hinh có ý kiến về hướng bồi dưỡng cho GV ở nhà trường: Xây dựng kế hoạch học tập lí luận cho GV trong 2 tháng hè; bồi dưỡng tin học, sử dụng các phần mềm cho đội ngũ cốt cán (tổ trưởng chuyên môn) trước sau đó bồi dưỡng GV toàn trường; xây dựng kế hoạch soạn giáo án điện tử với điều kiện mỗi môn chọn một người, sử dụng phần mềm để dạy thành thạo; tổ chức đợt giảng dạy, thao giảng theo nhóm môn cho toàn thể GV trong trường dự, sau đó bàn bạc, rút kinh nghiệm và dạy tương đối đủ các thể loại, các phương pháp.
Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) bà Đỗ Thị Mai Hương chú trọng “vấn đề bồi dưỡng định kỳ đầu năm học và bồi dưỡng thường xuyên trong năm học, bồi dưỡng theo chuyên đề, bồi dưỡng tập trung và tự bồi dưỡng hết sức quan trọng; đi sâu nội dung đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới quản lý GD, đổi mới sinh hoạt tổ, khối chuyên môn, tăng cường thăm lớp dự giờ để đánh giá chính xác khách quan, từ đó phát huy ưu điểm, khắc phục những mặt tồn tại. Bà Mai Hương còn cho rằng cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ GV trẻ về kinh nghiệm giảng dạy, bồi dưỡng GV đứng tuổi về việc sử dụng TBDH hiện đại.
TS Trịnh Thanh Hải (Trường ĐH sư phạm- ĐH Thái Nguyên) nêu cụ thể rằng: Thời gian tập huấn thường vào tháng 12, vào thời gian này các trường THPT thường có rất nhiều hoạt động nên rất khó khăn bố trí cán bộ. “Thường trong các hoạt động thi GV giỏi, thi HS giỏi... lại tập trung các GV cốt cán của các sở, các trường THPT nên cơ sở đành cử GV chưa đủ năng lực và kinh nghiệm để có thể triển khai những gì tiếp thu ở tập huấn”. Theo TS Trịnh Thanh Hải, hầu hết các sở và trường đều đề nghị nếu có tập huấn thì nên tổ chức vào dịp hè. Các trường sư phạm cũng nên xác định nội dung tập huấn theo hướng mở, chẳng hạn có nhiều chuyên đề để tuỳ điều kiện cụ thể, các sở GD- ĐT hoặc từng GV THPT sẽ lựa chọn nội dung phù hợp và thiết thực với công tác chỉ đạo và giảng dạy. Cũng theo TS Trịnh Thanh Hải, nên dành thời gian để trao đổi kinh nghiệm, phân tích những vấn đề khó trong chương trình, SGK THPT. Dành nhiều thời gian để GV THPT thể hiện, thực nghiệm nội dung được tập huấn, trên cơ sở đó có những phân tích chiều sâu, nhiều chiều về việc vận dụng lý luận dạy học vào từng tình huống cụ thể. TS Hải đề nghị không chỉ “khoán” cho tổ bộ môn phương pháp dạy học mà cần huy động tối đa giảng viên vững về chuyên môn, có bề dày nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở trường ĐH và am hiểu, có kinh nghiệm giảng dạy ở các trường THPT.
Các trường sư phạm cần có thêm các thông tin về việc vận dụng kiến thức thu nhận được trong các đợt tập huấn vào thực tế giảng dạy của GV tham gia tập huấn. Theo TS Trịnh Thanh Hải, đây là những thông tin phản hồi rất quan trọng để khẳng định hiệu quả của tập huấn cũng như có những điều chỉnh hợp lý cho các đợt tập huấn sau. Đối với giảng viên các trường sư phạm, không nên dành quá nhiều thời gian để trình bày những vấn đề có tính chất lý luận hoặc những vấn đề GV có thể tự đọc và tìm hiểu qua tài liệu; phải dành thời gian nhất định để tìm hiểu thực tế nhà trường nói chung, thực tế giảng dạy bộ môn, từng nội dung cụ thể để có sự liên hệ giữa lý luận và thực tế một cách khoa học, chính xác, thuyết phục được người tham dự tập huấn. Với GV tham gia tập huấn, TS Trịnh Thanh Hải cho rằng cần phải mạnh dạn thảo luận và đề xuất những ý kiến của bản thân cũng như trao đổi những kinh nghiệm, những khó khăn trong thực tế giảng dạy. Đối với sở GD- ĐT cần cử đúng đối tượng, cử GV tham gia tập huấn đúng chuyên môn.
Chủ nhiệm khoa Xã hội (Trường CĐ sư phạm Yên Bái), Ths. Nguyễn Hiền Lương cho rằng: “Nội dung bồi dưỡng về đổi mới phương pháp không thể tiến hành một cách siêu hình”. Việc thực hiện các phương pháp tích cực còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện dạy học, CSVC, đồ dùng thiết bị, trình độ dân trí của các vùng miền. Bên cạnh chương trình chính khoá, bắt buộc có chương trình tự chọn, chương trình địa phương. Những chương trình này hầu như còn bị bỏ ngỏ cả về nội dung và phương pháp. Điều đó gây nhiều khó khăn cho các địa phương, đặc biệt là các nhà trường và các GV trực tiếp giảng dạy. Vì vậy cần có sự bồi dưỡng về kĩ năng biên soạn nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học các nội dung này.
Về biên soạn tài liệu bồi dưỡng, Ths Nguyễn Hiền Lương đưa ra nhận xét: Trong những lần bồi dưỡng vừa qua, các tài liệu bồi dưỡng do các tác giả có uy tín biên soạn khá tốt, phục vụ tốt cho công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Theo Ths Nguyễn Hiền Lương, việc bồi dưỡng GV cần được tiến hành trực tiếp từ báo cáo viên cấp tỉnh tới 100% GV, không thông ra cốt cán cấp huyện, thị, tránh “tam sao thất bản”; thành phần báo cáo viên nên có giảng viên trường CĐSP các GV phổ thông có kinh nghiệp, như vậy sẽ tạo sự gắn kết giữa đào tạo và bồi dưỡng; bồi dưỡng về phương pháp dạy học không thể dừng ở việc bồi dưỡng lí thuyết mà cần có các tiết dạy thực hành, minh hoa.
Chắc chắn không có ai phủ nhận kết luận trên. Tuy nhiên, thế nào là đổi mới phương pháp dạy học (ĐMPP), vì sao phải ĐMPP, ĐMPP như thế nào, trách nhiệm của từng cá nhân và cấp quản lý chỉ đạo ra sao... thì còn là những vấn đề cần phải thảo luận thấu đáo. Hội thảo về “Chỉ đạo quản lý hoạt động ĐMPP ở các trường phổ thông” vừa được tổ chức tại Nghệ An ngày 3-1-2009 cũng nhằm mục đích đó. Chúng tôi xin trích sau đây những ý kiến đề dẫn do TS Lê Quán Tần - Vụ trưởng Vụ GD trung học, Bộ GD-ĐT trình bày tại Hội thảo.
Phương pháp dạy học (PPDH) là cách thức tiến hành hoạt động dạy học, bao gồm cả giáo dục nhân cách và truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho người học để thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với người học theo quy định của Chương trình GD.
PPDH không ngừng vận động trong hoạt động GD để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển KT-XH, do đó nó không nhất thành bất biến. Một PPDH tốt nếu áp dụng quá lâu khi điều kiện KT-XH đã thay đổi gây nên tình trạng bảo thủ “Khuyết điểm ngày hôm nay có thể từ sự duy trì quá lâu ưu điểm ngày hôm qua”.
1- Nhận dạng PPDH tích cực:
- GV bồi dưỡng cho HS tình cảm hứng thú, thái độ tích cực, tinh thần chủ động, sáng tạo.
- GV nắm vững chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình, đảm bảo cân đối giữa truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng; HS có được kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng lựa chọn phương pháp học tập có hiệu quả.
- GV nắm vững các kỹ năng và kỹ thuật dạy học cần thiết để tiến hành bài dạy đạt hiệu quả tối ưu.
- GV làm chủ lớp học, thiết lập bầu không khí thân thiện, tích cực, chủ động giải quyết các tình huống bất thường theo yêu cầu sư phạm.
- GV sử dụng hợp lý SGK và thiết bị dạy học, không lệ thuộc máy móc.
- Tích luỹ, khai thác sử dụng hồ sơ chuyên môn, liên hệ thực tế làm sinh động và sâu sắc bài giảng.
- GV quán triệt đặc trưng của các nhóm môn học để tăng hiệu quả dạy học. Với môn Toán và các môn KHTN thì chú trọng rèn kỹ năng tư duy logic; với các môn KHXH thì chú trọng bồi dưỡng năng lực cảm thụ, rèn kỹ năng diễn đạt.- Đánh giá sát đúng trình độ HS với thái độ khách quan, công minh, động viên suy nghĩ sáng tạo và hướng dẫn HS tự đánh giá; khai thác lỗi để HS không mắc lại lỗi, công nhận những tiến bộ của HS dù rất nhỏ để khuyến khích các em vươn lên. Kết hợp hợp lý hình thức tự luận và trắc nghiệm, tránh lạm dụng. Kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài. Căn cứ đặc trưng môn học để đánh giá một cách hiệu quả, chính xác, đặc biệt với các môn Mỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, GD công dân.
2- Thực trạng PPDH ở GD phổ thông:
Việc tiến hành các hoạt động dạy và học ở các nhà trường chưa bao giờ có nhiều thuận lợi như ngày nay: đó là truyền thống hiếu học đang được phát huy, sự phát triển KT-XH đã mang lại cải thiện đáng kể mức sống nhân dân và trình độ dân trí, sự nghiệp GD trong bối cảnh hội nhập đang được thúc đẩy đổi mới theo hướng hiện đại, CSVC được nâng cấp đáng kể, đội ngũ nhà giáo và CBQL ngày càng được nâng cao chất lượng. Tuy nhiên, một nhược điểm lớn vẫn đang tồn tại trong một bộ phận không nhỏ GV, đó là tư tưởng bảo thủ trong nhận thức và thói quen dạy học thụ động, nặng đối phó với thi cử. Một số GV có nhu cầu đổi mới PPDH nhưng lại chưa làm chủ đuợc PPDH, chưa nắm vững kỹ năng và kỹ thuật tổ chức dạy học nên ĐMPP một cách khiên cưỡng và hình thức. Một số GV quen dạy chay, ngại sử dụng TBDH hoặc sử dụng kém hiệu quả, lạm dụng TBDH.... GV còn có tình trạng thuyết giảng quá nhiều, chưa dũng cảm thoát ly SGK, chưa cân đối giữa truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng...
Những tồn tại trên đây có nguyên nhân từ phía khách quan do các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa được đáp ứng đủ (đội ngũ GV, CSVC nhà trường, điều kiện học tập của HS) nhưng quan trọng nhất là nguyên nhân chủ quan. Công tác bồi dưỡng GV còn nhiều bất cập (thời gian ngắn, phương pháp cũ, chưa hình thành được kỹ năng và kỹ thuật dạy học cho GV), công tác quản lý chỉ đạo về ĐMPP của các cơ quan QLGD và các nhà trường cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động ĐMPP.
3- Trách nhiệm của cơ quan quản lý và nhà trường với hoạt động ĐMPP:
*Trách nhiệm của các sở và phòng GD-ĐT: Tổ chức bồi dưỡng GV về ĐMPP định kỳ và thường xuyên theo tinh thần cần gì bồi dưỡng nấy và với phương pháp, hình thức đổi mới, có kiểm tra đánh giá hiệu quả bồi dưỡng.
*Trách nhiệm của nhà trường, tổ chuyên môn và giáo viên:
Ban giám hiệu nhà trường phải đi tiên phong và tạo động lực cũng như các điều kiện cần thiết cho GV ĐMPP. Phải tổ chức tốt cuộc vận động “Mỗi thầy giáo cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Tổ chức đánh giá khen thưởng kịp thời, trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng điển hình.
Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học, phải tổ chức tốt việc nghiên cứu, thảo luận cách giải quyết những vấn đề mới về chuyên môn, dự giờ rút kinh nghiệm để phát huy hiệu quả; đề xuất với BGH về đánh giá phân loại chuyên môn GV một cách khách quan, công bằng, phát huy vai trò GV giỏi, hỗ trợ giúp đỡ GV yếu, GV mới ra trường và đề xuất để thực hiện chính sách thi đua khen thưởng...
Mỗi GV phải tự giác tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng công tác chuyên môn; phải thực hiện ĐMPP đi đôi với hình thành phương pháp dạy học tích cực cho HS; tham gia dự giờ và tiếp nhận đồng nghiệp dự giờ mình để trao đổi học hỏi lẫn nhau, tiếp nhận ý kiến của đồng nghiệp và HS về hoạt động ĐMPP của mình để không ngừng tiến bộ.
* ĐMPP của GV và đổi mới phương pháp học của HS là nội dung cơ bản của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Việc áp dụng phương pháp dạy-học tích cực là giải pháp có tầm quan trọng quyết định nâng cao chất lượng GD trong mỗi nhà trường. Tuy nhiên, cần nhận thức sâu sắc rằng ĐMPP không có nghĩa là xoá bỏ hẳn phương pháp truyền thống mà kế thừa có chọn lọc đồng thời thực hiện các PPDH và kỹ thuật dạy học hiện đại trên cơ sở áp dụng các thành tựu KH-CN, các kinh nghiệm GD tiên tiến.
Hoạt động ĐMPP chỉ có thể thành công nếu có sự vào cuộc của chính mỗi GV và các cấp quản lý GD từ nhà trường đến Phòng, Sở, Bộ. Mỗi cá nhân, tổ chức trong cương vị của mình cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình, chuyển ý chí thành tình cảm, để động lực ĐMPP luôn được thực hiện một cách tự giác bên cạnh sự phối hợp của các quy chế chế tài bắt buộc cũng như các chính sách khen thưởng động viên kịp thời. Theo đề nghị của Phó Thủ tướng-Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, trong năm học này, Cục nhà giáo và CBQLGDCS sẽ đề xuất một danh hiệu xứng đáng cho GV tích cực ĐMPP, bên cạnh những danh hiệu đã có truyền thống như CSTĐ, GVG, NGưT, NGND.
Những ngày đầu năm 2009, chúng tôi đã có dịp dự giờ 10 tiết dạy đổi mới phương pháp (ĐMPP) của các GV tiểu học, THCS và THPT tại Nghệ An. Cảm nhận chung của chúng tôi sau khi dự các tiết dạy-học này là: Nếu tất cả các giờ dạy ở trường phổ thông đều được như thế thì có thể yên tâm rằng, hoạt động ĐMPP đã thực sự đi vào đời sống học đường. Và cũng nếu như vậy thì cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã có yếu tố quyết định để thành công, sự nghiệp đổi mới GD phổ thông đã coi như hoàn thành một khâu rất quan trọng. Nhưng đó là “nếu”...
1-Ở các lớp học, mặc dù có nhiều người dự giờ nhưng các GV đa số đều rất tự tin, thái độ thân thiện, tổ chức hoạt động dạy và học một cách tích cực, chủ động được bài dạy (không bị “cháy giáo án”). Về phía HS, do được GV hướng dẫn nên đều học tích cực, phối hợp tốt với GV để thực hiện mục tiêu giờ học, không còn hiện tượng đọc chép. Nhìn chung, so với các giờ học trước đây theo phương pháp truyền thống thì rõ ràng thấy một bước chuyển rất mạnh cả về nội dung và phương pháp. Đây là bước chuyển tích cực, và đương nhiên, kết quả se khả quan hơn, các mục tiêu kiến thức, thái độ, kỹ năng đều được thực hiện tương đối chu toàn.
Tuy nhiên, nếu nhìn một cách xa hơn, sâu hơn, đòi hỏi cao hơn (cũng có nghĩa là tôn trọng hơn) thì sẽ thấy, việc ĐMPP còn nhiều chỗ phải bàn. Ví dụ, một số GV có thể là do kỹ năng chưa tốt, có thể là do nhận thức chưa đúng đắn, nên việc thực hiện ĐMPP còn khiên cưỡng, hình thức, không hiệu quả (tổ chức thảo luận nhóm trong thời gian quá ít, HS di chuyển quá nhiều trong lớp theo chỉ đạo của GV, lạm dụng các phương tiện dạy học hiện đại nhưng thực sự lại chưa khai thác hết tính năng ưu việt của nó nên đôi lúc gây phân tán cho HS không cần thiết, hoặc nói nôm na là chuyển từ đọc chép sang nhìn chép). Thứ hai, cũng có thể do quá tham hoạt động nên GV không còn thời gian để sửa lỗi cho HS chứ chưa nói đến mức độ cao hơn là “khai thác lỗi” để HS không mắc lại lỗi đó nữa.
Một số giờ giảng khác, GV chưa thực sự “thổi lửa” đến HS, có những liên hệ cần thiết giúp các em không chỉ yêu bộ môn, yêu bài học cụ thể, mà còn nâng lên một mức cao hơn là yêu quê hương mình, yêu những gì rất cụ thể gần gũi gắn với mình. Đó cũng là bồi dưỡng tình cảm, rèn luyện kỹ năng liên hệ cho HS. Trong một vài trường hợp, GV vẫn chưa đủ dũng cảm thoát ly SGK để chủ động truyền thụ kiến thức một cách “mở” hơn, gây hứng thú cho HS hơn.
Cuối cùng, cả 10 tiết học đều được thực hiện ở các trường đạt chuẩn quốc gia, có nghĩa là đảm bảo những yêu cầu chuẩn để GV có thể thực hiện được hoạt động ĐMPP của mình. Mà ngay tại những nơi này thì theo nhận định của một GV, cũng chỉ có khoảng 6/10 GV làm được như vậy. Còn những nơi khác, những giờ học khác, liệu GV có thể được tạo điều kiện để ĐMPP được không?
2-Tâm sự với chúng tôi, một số GV đã nói: Để ĐMPP thì GV sẽ rất vất vả, thậm chí còn tốn kém nưa. Vậy mà, có khi lại chẳng được ủng hộ. Thành công thì không sao, biết đâu thất bại thì mình là người “giơ đầu chịu báng” trước tiên. Có hoàn cảnh thì không sao, GV ở những vùng xa xôi khó khăn thì chắc chắn chẳng ai dám “đâm đầu” vào ĐMPP. Cứ làm như cũ là an toàn.
Cô giáo Đinh Thị Tú, Hiệu trưởng Trường tiểu học Phạm Hồng Thái (TP Nam Định-Nam Định) bức xúc khi cho rằng, một bộ phận GV ở các loại hình đào tạo chưa đạt chuẩn trước đây chưa có trình độ chuyên môn đủ đáp ứng yêu cầu ĐMPP nên thực hiện còn rất lúng túng. Thậm chí, nhiều GV vẫn còn mơ hồ về vai trò cũng như bản chất của ĐMPP, nên không quan tâm thực hiện hoặc thực hiện thiếu hiệu quả. Cùng với đó là tâm lý ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, không chịu năng động sáng tạo để ĐMPP; hoặc không tin tưởng vào HS, luôn gò các em làm theo ý của mình, quên đi tính độc lập sáng tạo của các em, vì vậy tiết dạy tẻ nhạt, đơn điệu, nặng nề và nhàm chán. Chính cách dạy cũ này đã không thể xây dựng được cho HS cách học thích ứng.
Ông Vũ Đình Chuẩn, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn - Đà Nẵng thì tâm sự: GV không mong muốn ĐMPP thì không thể làm gì được. Không thể duy ý chí để bắt buộc họ phải ĐMPP. Chỉ khi nào tự họ có động lực, thì họ sẽ biến y chí thành tình cảm và tìm ra phương thức để làm. Điều đó phụ thuộc nhiều vào các nhà quản lý.
Ông Lê Văn Ngọ, Giám đốc Sở GD-ĐT Nghệ An cho rằng: nhiệm vụ của các nhà quản lý cơ sở là tạo ra cơ chế vừa ràng buộc vừa kích cầu GV để họ “thi công” tốt công việc của mình. Thực tế là GV hiện nay đã và đang đứng trước nhiều sức ép. Số lượng giờ dạy quá nhiều, các hoạt động xã hội, đời sống vật chất khó khăn, HS vẫn học theo kiểu ứng thí..., cộng với điều kiện CSVC kém đã tác động chi phối, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công việc ĐMPP của GV.
Từ TP Huế, đại diện Trường THCS Lê Hồng Phong cho biết những hạn chế cả về GV và HS khi tiến hành ĐMPP: GV thì còn hạn chế về nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng tạo các tình huống có vấn đề; việc tổ chức học hợp tác nhóm nhỏ đang còn bỡ ngỡ và lúng túng, mang tính hình thức và trình diễn. CBQL nhà trường cũng rất khó khăn trong việc thay đổi nền nếp cũ của đội ngũ. Thiết bị dạy học nào cũng không phải vạn năng mà chỉ có GV mới là vạn năng. CNTT là một thiết bị mạnh nhưng không ít GV khả năng tiếp cận với CNTT còn rất hạn chế và tự loại mình ra khỏi đôi tượng sử dụng. Về HS, việc chuẩn bị bài chưa đáp ứng được yêu cầu học trên lớp do nhiều nguyên nhân, vì vậy tiếp thu bài học theo phương pháp mới còn lúng túng.
3-Nhìn vào thực tế ĐMPP hiện nay, rõ ràng còn rất nhiều vấn đề vướng mắc phải tháo gỡ, từ nhiều phía. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là phải làm sao để tất cả các đối tượng liên quan (CBQL, GV, HS) đều phải nhận thức rõ sự cần thiết phải ĐMPP, tự giác thực hiện nhưng cũng phải coi đó như là một yêu cầu bắt buộc để đổi mới GD, hay nói cách khác, ĐMPP phải được tiến hành bằng cả ý chí, tình cảm và tri thức của mọi người, trước hết là GV trực tiếp đứng lớp và hiệu trưởng nhà trường. Có được điêu đó thì dù trong hoàn cảnh nào, việc ĐMPP cũng sẽ có hiệu quả.